Vương bất lưu hành

vb

Vương bất lưu hành

Giới thiệu chung

Vị thuốc: Vương bất lưu hành

Tên Latin: Semen Vaccariae

Tính vị: Vị đắng, tính bình

Quy kinh: Vào kinh can, vị

Hoạt chất: Vacsegoside, gypsogenin, glucoronic acid, glucose, arabinose, xylose, fucose, rhamnose, isosaponarin, saponaretin, vitexin

Dược năng: Thông kinh, hoạt huyết, giảm sưng

Kiêng kỵ: Phụ nữ có thai không dùng

Nguồn: “Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của GS.TS Đỗ Tất Lợi (Giải thưởng Hồ Chí Minh”)

Đặc điểm
Vương bất lưu hành, còn có các tên gọi như cây xộp, trâu cổ, cây vẩy ốc… Ðây là một cây thuốc mọc hoang ở nhiều nơi trên cả nước và có đặc điểm khác so với nhiều loại thực vật khác.

Cây xộp là một loại cây leo trên đá hoặc trên các cây cổ thụ lớn, có thể dài tới 5-10m. Đường kính thân cây cso thể lên tới 1cm, vỏ thân xù xì có từng đốt ngắn không đều. Ở đốt mọc ra các rễ, có hai loại cành. Những cành không mang hoa có lá nho dài0,6-2,5cm, hình như vảy ốc do đó còn có tên vảy ốc. Cành mang hoa có lá to và dày. đế hoa lõm. Quả thực ra là một loại quả giả vì cấu tạo bởi một đế hoa lõm hình chén, miệng khép kín, ở giữa có một lỗ thủng con, quả dài độ 4cm, đường kính độ 3cm

Chúng thường mọc bám vào bờ tường, thân cây với đặc điểm lá nhỏ như vẩy ốc, bề mặt của lá bám vào tường hoặc thân cây. Vì vậy, dựa vào đặc điểm này người ta gọi là cây vẩy ốc. Khi cây đã phát triển mạnh mới có các cành phát triển với các lá to và dầy. Thân và lá non khi bẻ có nhựa mủ trắng. Quả có màu xanh lục, khi chín có màu đỏ. Tuy nhiên, theo các nhà thực vật học, đây chỉ là những quả giả mà thôi. Khi bổ quả giả bên trong có nhiều hạt nhỏ, đây mới đích thực là quả của cây thuốc này. Tùy theo bộ phận dùng làm thuốc mà có có các tên gọi khác nhau: Quả xộp gọi là bị lệ thực, lương phấn quả, người Quảng Ðông còn gọi là vương bất lưu hành; cành lá cây xộp gọi là bị lệ lạc thạch đằng.

Theo tài liệu cổ Thần nông bản thảo, Bản thảo cương mục đều cho rằng vương bất lưu hành có tác dụng bồi bổ, chữa di tinh, liệt dương, đau lưng và lỵ lâu ngày, lòi dom. Ðặc biệt, nhân dân Trung Quốc còn dùng vương bất lưu hành để chữa tắc tia sữa. Liều dùng 3-6g mỗi ngày, có thể sử dụng với liều cao 30g sắc uống hằng ngày. Vương bất lưu hành có thể dùng để nấu cao thuốc hoặc làm mứt ăn. Ðược dùng để chữa đau nhức xương, đau mình mẩy, điều kinh, kích thích tiêu hóa…Cành và lá được dùng để chữa mụn nhọt và thông đại tiểu tiện với liều 8-16g dưới dạng thuốc sắc hoặc nấu cao. Theo giáo sư Ðỗ Tất Lợi, cành và lá cây xộp có thể dùng ngâm rượu chữa đau xương, di tinh, liệt dương…
Do tên thuốc là vương bất lưu hành nên có người hiểu theo nghĩa là vua cấm dùng do chữ vương ở đây được hiểu là vua, bất lưu hành là cấm dùng. Tuy nhiên, ta có thể lý giải tên thuốc đó theo một cách khác, do chữ Nhâm vi vương , bàng quang đóng ở chữ Nhâm. ở đây, bàng quang là một phủ trong lục phủ ngũ tạng của cơ thể với chức năng tàng chứa và bài xuất nước tiểu; Nhâm là một trong thập thiên can mà ta vẫn quen nghe nói như giáp, ất, bính, đinh, mậu, kỷ, canh, tân, nhâm, quý. Do vậy với tên thuốc này không thể hiểu là vua cấm lưu hành mà phải hiểu đó là tác dụng chữa bệnh bàng quang không thông của cây thuốc!

Thành phần
Thành phần hoá học: Hàm chứa 4 loại vac- segoside A, B, C, D; còn hàm chứa flavonoid , như vaccarin, isosaponarin; ngoài ra còn hàm chứa phytin, phospholipid, stigmasterol v.v…

- Trong vỏ quả có tới 13% chất Gôm. Thủy phân chất gôm này cho glucoza, frucoza và arabinoza.

- Trong thân và lá có một ít ancaloit

Công dụng
– Hành huyết thông kinh, thúc dục sinh xuống sữa, tiêu sưng thu liễm vết thương.

- Trị phụ nữ kinh bế, sữa không thông, khó sanh, huyết lâm, nhọt sưng, vêế thương do kim khí xuất huyết.

- Thông kinh xuống sữa: Dùng trị kinh bế và sữa không xuống.

- Vương bất lưu hành trị sữa nhiều mà không thông; nếu chứng hư sữa ít cần phối dùng thuốc bổ ích khí huyết.

- Hoạt huyết tiêu sưng: Dùng trị khối sưng ứ huyết và nhọt vết thương sưng độc.

- Bản kinh: Chủ vết thương do kim khí, cầm máu đuổi đau, ra gai nhọn, trừ phong tý lạnh bên trong.

- Biệt lục: Ngừng tâm phiền mũi chảy máu cam, ung nhọt vết thương ghẻ độc, vú nhọt rò, đàn bà sanh khó.

- Dược tính luận: Trị phong độc, thông huyết mạch.

- Nhật Hoa tử bản thảo: Trị phát bối, du phong, phong chẩn, đàn bà huyết kinh không đều và sanh khó.

- Trân châu nang: Đạo dẫn mẹ con, lợi vết thương nhọt loét, chủ trị lỵ.

- Cương mục: Lợi tiều tiện.

- Bản thảo tòng tân: Trị đinh nhọt.

Do tên thuốc là Vương bất lưu hành nên có người hiểu theo nghĩa là vua cấm dùng do chữ vương ở đây được hiểu là vua, bất lưu hành là cấm dùng. Tuy nhiên, ta có thể lý giải tên thuốc đó theo một cách khác, do chữ Nhâm vi vương, bàng quang đóng ở chữ Nhâm. Ở đây, bàng quang là một phủ trong lục phủ ngũ tạng của cơ thể với chức năng tàng chứa và bài xuất nước tiểu; Nhâm là một trong thập thiên can mà ta vẫn quen nghe nói như giáp, ất, bính, đinh, mậu, kỷ, canh, tân, nhâm, quý. Do vậy với tên thuốc này không thể hiểu là vua cấm lưu hành mà phải hiểu đó là tác dụng chữa bệnh bàng quang không thông của cây thuốc!

Ngày nay, Vương bất lưu hành đã được chứng mình có thể phát huy công dụng đặc biệt của mình khi sử dụng cho bệnh nhân phì đại tiền liệt tuyến ở dạng dịch chiết. Khi được sử dụng trên bệnh nhân phì đại tiền liệt tuyến, Vương bất lưu hành giúp làm giảm kích thước khối phì đại, từ đó giảm chèn ép lên niệu đạo. Một lợi điểm nữa của việc sử dụng Vương bất lưu hành đó là không gây ra các tác dụng phụ hay làm ảnh hưởng đến khả năng tình dục của người bệnh – một nhược điểm lớn mà những thuốc điều trị phì đại tiền liệt tuyến hay gặp phải.

Các tin khác